Thiên can, địa chi: bộ đếm thời gian của người xưa
Mười can, mười hai chi ghép thành sáu mươi cặp Giáp Tý, dùng để ghi năm, tháng, ngày, giờ.
Khoảng 2 phút đọc
Mười thiên can
Giáp, Ất (Mộc) · Bính, Đinh (Hỏa) · Mậu, Kỷ (Thổ) · Canh, Tân (Kim) · Nhâm, Quý (Thủy). Can đứng trước trong mỗi cặp là dương, can sau là âm.
Mười hai địa chi
Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Mỗi chi gắn với một con giáp, một hướng, một tháng và một khoảng hai giờ trong ngày. Giờ Tý là từ 23 giờ đến 1 giờ sáng, giờ Sửu từ 1 đến 3 giờ, cứ thế mỗi chi hai tiếng.
Lục thập hoa giáp
Ghép can dương với chi dương, can âm với chi âm, ta có 60 cặp: Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần… đến Quý Hợi rồi quay lại. Vì thế cứ 60 năm tên năm lặp lại một lần.
Vì sao quan trọng
Bát tự chính là bốn cặp can chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh. Tử vi dùng can năm để an Tứ hóa và chi năm, tháng, giờ để an cung, an sao. Hiểu can chi là có chìa khóa đọc cả hai môn.
Soi vào lá số của chính bạn
Nhập ngày giờ sinh, xem thử miễn phí trong chưa tới một phút.
Lập lá số miễn phí